10:25 19/05/2015

1. Định nghĩa
Xét nghiệm soi trầm tích nước tiểu để tìm các thành phần có thể nhìn thấy được trong nước tiểu như: hồng cầu, bạch cầu, tế bào biểu mô, các loại phôi, tinh thể. Có 2 cách: sàng lọc tươi và thải bỏ Addis.
– Nhuộm tươi: Có thể lấy nước tiểu giữa dòng vào buổi sáng hoặc bất kỳ ngày nào trong ngày, cho vào ống nghiệm, lấy một giọt nước tiểu không ly tâm và soi dưới kính hiển vi có vật kính 10X.
Thải Addis: 6h sáng cho bệnh nhân đi tiểu đêm, ghi giờ, uống 200ml nước đun sôi để nguội. Sau đó bệnh nhân nằm nghỉ và đi tiểu vào bô (đã rửa sạch bằng xà phòng). 9 giờ cho bệnh nhân đi tiểu lần cuối, sau đó đo lượng nước tiểu và ghi vào giấy xét nghiệm. Thu thập 10 ml nước tiểu và mang đến phòng thí nghiệm.
2. Đánh giá kết quả
Bình thường:
Hồng cầu, bạch cầu không có hoặc rất ít, một số tế bào dẹt do thoái hóa niêm mạc niệu quản, đôi khi có một số tinh trùng (nếu ở nam).
– Soi mới thấy 0-1 hồng cầu, 0-3 bạch cầu trên vi trường.
– Chất thải Addis: Không bình thường:
+ Soi hồng cầu:
– Soi tươi: 3 hồng cầu/microfield (++).
5 hồng cầu/microfield (+++).
Addis thải: > 1000 hồng cầu/phút.
+ Đái máu đại thể: đái máu với số lượng nhiều, mắt thường có thể thấy nước tiểu có màu hồng như rửa thịt có màu đỏ, lâu ngày hồng cầu mới lắng xuống. Lượng máu tối thiểu bắt đầu đổi màu nước tiểu là khoảng 1 ml máu trong 1 lít nước tiểu. Soi sáng thấy các vi cầu đậm đặc hồng cầu.
Thử nghiệm 3 cốc có thể được thực hiện để chẩn đoán vị trí chảy máu. Cách làm: Cho bệnh nhân đi tiểu nhiều, chia làm 3 phần liên tiếp trong 3 cốc thủy tinh. Nếu lượng máu lớn nhất ở cốc đầu tiên, đó thường là chảy máu từ niệu đạo; lượng máu lớn nhất trong cốc thứ ba thường chảy vào bàng quang; Cùng một lượng máu trong cả 3 cốc thường chảy vào thận hoặc niệu quản. Tuy nhiên, liệu pháp này chỉ mang tính chất tương đối. Để chẩn đoán chính xác, cần làm thêm các xét nghiệm.
Tại phòng khám, tăng hồng cầu được quan sát thấy trong viêm cầu thận, lao thận và sỏi tiết niệu (sỏi canxi-xương chậu, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang), viêm bàng quang, ung thư bàng quang; có thể do các bệnh toàn thân (bệnh về hệ tạo máu, rối loạn đông máu). Khoảng 1% trường hợp đái máu không tìm được nguyên nhân.
Giảm bạch cầu:
– Giáo hoàng:
Tiểu BC khi: 3 – 5 BC/microfield (+)
> 5 TCN/vi trường (++)
> 10 TCN/vi trường (+++)
> 20 TCN/vi trường (++++).
– Phần còn lại của Addis > 2000 TCN/phút.
Vào phòng khám khi BC (+++) hoặc (++++) là bị nhiễm trùng tiểu. Nếu có cột BC thì chắc chắn là nhiễm trùng tiết niệu. > 30 BC/microfield (microfield dày đặc BC) và nhiều BC thoái hóa: gọi là đái mủ. Trong những trường hợp này, nhìn bằng mắt thường nước tiểu thường đục, gặp trong viêm bể thận cấp và mãn tính.
Hình trụ: Hình trụ là những cấu trúc hình trụ có trong nước tiểu. Xương sống là mucoprotein, là một loại protein được tiết ra bởi các tế bào hình ống bị tổn thương gọi là protein Tam-Holsfall, và một loại protein từ huyết tương đi qua cầu thận vào nước tiểu. Trong điều kiện cô đặc và pH nước tiểu có tính axit, chúng cứng lại và hình thành trong ống lượn xa rồi thải ra nước tiểu.
Đái dầm là biểu hiện tổn thương thực thể ở cầu thận hoặc ống thận. Có hai loại khuôn trụ: khuôn không có tế bào và khuôn có tế bào. Trụ tế bào là cột chứa các tế bào chết (tế bào biểu mô ống, bạch cầu, hồng cầu, v.v.). Loại trụ cột có giá trị gợi ý chẩn đoán bệnh, còn số lượng trụ cột không nói lên mức độ nặng hay nhẹ của bệnh. Các trụ cột được phân chia như sau:
– Trụ trong: hay trụ hyaline bản chất là protein chưa bị phân giải hoàn toàn, không có tế bào.
– Cột keo: do thoái hóa tế bào.
– Trụ sáp: protein bị phân huỷ.
– Cột mỡ: chứa các giọt mỡ, có trong HCTH.
– Trụ hạt: chứa protein và tế bào biểu mô ống thận chết, thường gặp trong viêm cầu thận mạn. Trong suy thận cấp, có thể nhìn thấy các hạt màu nâu.
– Hồng cầu: chứa hồng cầu từ cầu thận, gặp trong viêm cầu thận cấp.
– Nhóm bạch cầu: chứa các bạch cầu chết, tổn thương từ nhu mô thận, gặp trong viêm bể thận cấp và mạn tính.
+ Các thành phần cặn khác trong nước tiểu:
– Tinh thể: phosphat, calci oxalat, tinh thể urat, tinh thể cystine. Nếu có quá nhiều tinh thể sẽ có nguy cơ hình thành sỏi.
– Tế bào ung thư: gặp trong ung thư thận – tiết niệu.
– Tế bào biểu mô: nếu thấy nhiều là nhiễm trùng tiết niệu.
– Thể quang dimeric: là thành phần este của cholesterol ở dạng hạt béo, lắng đọng mỡ gặp trong hội chứng thận hư.

Xem thêm :   Netizen là gì? Netizen có tầm ảnh hưởng như thế nào trên màng xã hội?

Xét nghiệm soi trầm tích nước tiểu để tìm các thành phần có thể nhìn thấy được trong nước tiểu như: hồng cầu, bạch cầu, tế bào biểu mô, các loại phôi, tinh thể. Có 2 cách: sàng lọc tươi và thải bỏ Addis.

– Nhuộm tươi: Có thể lấy nước tiểu giữa dòng vào buổi sáng hoặc bất kỳ ngày nào trong ngày, cho vào ống nghiệm, lấy một giọt nước tiểu không ly tâm và soi dưới kính hiển vi có vật kính 10X.

Thải Addis: 6h sáng cho bệnh nhân đi tiểu đêm, ghi giờ, uống 200ml nước đun sôi để nguội. Sau đó bệnh nhân nằm nghỉ và đi tiểu vào bô (đã rửa sạch bằng xà phòng). 9 giờ cho bệnh nhân đi tiểu lần cuối, sau đó đo lượng nước tiểu và ghi vào giấy xét nghiệm. Thu thập 10 ml nước tiểu và mang đến phòng thí nghiệm.

2. Đánh giá kết quả

Bình thường:

– Soi mới thấy 0-1 hồng cầu, 0-3 bạch cầu trên vi trường.

– Chất thải Addis:

Không bình thường:

+ Soi hồng cầu:

– Soi tươi: 3 hồng cầu/microfield (++).

5 hồng cầu/microfield (+++).

Addis thải: > 1000 hồng cầu/phút.

+ Đái máu đại thể: đái máu với số lượng nhiều, mắt thường có thể thấy nước tiểu có màu hồng như rửa thịt có màu đỏ, lâu ngày hồng cầu mới lắng xuống. Lượng máu tối thiểu bắt đầu đổi màu nước tiểu là khoảng 1 ml máu trong 1 lít nước tiểu. Soi sáng thấy các vi cầu đậm đặc hồng cầu.

Xem thêm :   Hướng Dẫn Cách Thay đổi Tên Facebook đơn Giản

Thử nghiệm 3 cốc có thể được thực hiện để chẩn đoán vị trí chảy máu. Cách làm: Cho bệnh nhân đi tiểu nhiều, chia làm 3 phần liên tiếp trong 3 cốc thủy tinh. Nếu lượng máu lớn nhất ở cốc đầu tiên, đó thường là chảy máu từ niệu đạo; lượng máu lớn nhất trong cốc thứ ba thường chảy vào bàng quang; Cùng một lượng máu trong cả 3 cốc thường chảy vào thận hoặc niệu quản. Tuy nhiên, liệu pháp này chỉ mang tính chất tương đối. Để chẩn đoán chính xác, cần làm thêm các xét nghiệm.

Tại phòng khám, tăng hồng cầu được quan sát thấy trong viêm cầu thận, lao thận và sỏi tiết niệu (sỏi canxi-xương chậu, sỏi niệu quản, sỏi bàng quang), viêm bàng quang, ung thư bàng quang; có thể do các bệnh toàn thân (bệnh về hệ tạo máu, rối loạn đông máu). Khoảng 1% trường hợp đái máu không tìm được nguyên nhân.

Giảm bạch cầu:

– Giáo hoàng:

Tiểu BC khi: 3 – 5 BC/microfield (+)

> 5 TCN/vi trường (++)

> 10 TCN/vi trường (+++)

> 20 TCN/vi trường (++++).

– Phần còn lại của Addis > 2000 TCN/phút.

Vào phòng khám khi BC (+++) hoặc (++++) là bị nhiễm trùng tiểu. Nếu có cột BC thì chắc chắn là nhiễm trùng tiết niệu. > 30 BC/microfield (microfield dày đặc BC) và nhiều BC thoái hóa: gọi là đái mủ. Trong những trường hợp này, nhìn bằng mắt thường nước tiểu thường đục, gặp trong viêm bể thận cấp và mãn tính.

Xem thêm :   32062 là gì? 32062 có nghĩa là gì trong tình yêu?

Hình trụ: Hình trụ là những cấu trúc hình trụ có trong nước tiểu. Xương sống là mucoprotein, là một loại protein được tiết ra bởi các tế bào hình ống bị tổn thương gọi là protein Tam-Holsfall, và một loại protein từ huyết tương đi qua cầu thận vào nước tiểu. Trong điều kiện cô đặc và pH nước tiểu có tính axit, chúng cứng lại và hình thành trong ống lượn xa rồi thải ra nước tiểu.

Đái dầm là biểu hiện tổn thương thực thể ở cầu thận hoặc ống thận. Có hai loại khuôn trụ: khuôn không có tế bào và khuôn có tế bào. Trụ tế bào là cột chứa các tế bào chết (tế bào biểu mô ống, bạch cầu, hồng cầu, v.v.). Loại trụ cột có giá trị gợi ý chẩn đoán bệnh, còn số lượng trụ cột không nói lên mức độ nặng hay nhẹ của bệnh. Các trụ cột được phân chia như sau:

– Trụ trong: hay trụ hyaline bản chất là protein chưa bị phân giải hoàn toàn, không có tế bào.

– Cột keo: do thoái hóa tế bào.

– Trụ sáp: protein bị phân huỷ.

– Cột mỡ: chứa các giọt mỡ, có trong HCTH.

– Trụ hạt: chứa protein và tế bào biểu mô ống thận chết, thường gặp trong viêm cầu thận mạn. Trong suy thận cấp, có thể nhìn thấy các hạt màu nâu.

– Hồng cầu: chứa hồng cầu từ cầu thận, gặp trong viêm cầu thận cấp.

– Nhóm bạch cầu: chứa các bạch cầu chết, tổn thương từ nhu mô thận, gặp trong viêm bể thận cấp và mạn tính.

+ Các thành phần cặn khác trong nước tiểu:

– Tinh thể: phosphat, calci oxalat, tinh thể urat, tinh thể cystine. Nếu có quá nhiều tinh thể sẽ có nguy cơ hình thành sỏi.

– Tế bào ung thư: gặp trong ung thư thận – tiết niệu.

– Tế bào biểu mô: nếu thấy nhiều là nhiễm trùng tiết niệu.

– Thể quang dimeric: là thành phần este của cholesterol ở dạng hạt béo, lắng đọng mỡ gặp trong hội chứng thận hư.

By ChaoLua TV

ChaoLua TV - website xem trực tiếp bóng đá hôm nay miễn phí, full HD, không quảng cáo. Sôi động cùng hàng loạt bình luận viên nổi tiếng, trực tiếp các giải bóng đá hàng đầu thế giới.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *